Chưa sẵn sàng
Các đơn vị chủ rừng trên địa bàn Nghệ An duy trì hoạt động nhờ được trích % kinh phí quản lý thuộc các chương trình, chính sách lâm nghiệp của Nhà nước. Để vận hành bộ máy xuyên suốt đòi hỏi phải xây dựng kế hoạch bài bản, tính toán kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hài hòa nhiệm vụ chuyên môn lẫn thu nhập cho người lao động, dù vậy số đông đều thừa nhận khó khăn.

Các đơn vị chủ rừng được trích 7% từ kinh phí quản lý thuộc các chương trình, chính sách lâm nghiệp của Nhà nước để duy trì bộ máy. Ảnh: KA.
Thuộc diện “vip” nhất trong hệ thống chủ rừng tại Nghệ An là Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt, đơn vị này được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ hơn 84.616 ha rừng và đất lâm nghiệp thuộc quy hoạch rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, phân bổ trên địa bàn 5 xã Quế Phong, Tiền Phong, Thông Thụ, Mường Quàng và Tri Lễ.
Diện tích trên chủ yếu ở khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng giáp ranh với biên giới Việt – Lào. Vùng đệm của Khu BTTN Pù Hoạt có hơn 70 thôn bản với khoảng 47.600 nhân khẩu, bao gồm đồng bào nhiều dân tộc sinh sống (Thái, Kinh, Khơ mú, Thổ và H’mông). Qua khảo sát thấy rằng đời sống của người dân còn nhiều cơ cực, điều kiện sản xuất và thu nhập chủ yếu dựa vào nông, lâm nghiệp.
Đói nghèo, túng quẫn khó tránh khỏi tác động đến vốn rừng, vô hình chung tạo nên áp lực khổng lồ đối với Khu BTTN Pù Hoạt trong công tác quản lý, bảo vệ. Điều này được thể hiện qua số liệu thống kê trong năm 2025, trên lâm phận quản lý của đơn vị này ghi nhận 8 vụ vi phạm Luật lâm nghiệp, qua đó tịch thu 1,088 m3 gỗ các loại. Dù mức độ đã giảm so với đầu giai đoạn (năm 2021 phát hiện và xử lý 27 vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp, tịch thu 26.158 m3 gỗ các loại) nhưng chung quy rừng vẫn... chưa yên.

Không dể để Khu BTTN Pù Hoạt cùng lúc đảm đương nhiệm vụ giữ rừng, đồng thời có phương án tự chủ hoàn toàn về mặt tài chính. Ảnh: KA.
Về nút thắt, lãnh đạo Khu BTTN Pù Hoạt thừa nhận cơ chế, chính sách trong lĩnh vực lâm nghiệp thiếu ổn định, chủ yếu theo giai đoạn 5 năm, do đó thiếu tính bền vững. Mặt khác, điều kiện làm việc và chế độ chính sách cho cán bộ trực tiếp làm nghề rừng, bảo vệ rừng còn quá thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Hệ quả là hiệu quả công tác chuyên môn chưa cao, chưa thu hút được những nguồn lực lao động chất lượng, chưa tạo được tâm lý yêu nghề và gắn bó lâu dài với nghề rừng.
Nhân đây xin nói thêm, diện tích đất có rừng trong phạm vi của Khu BTTN Pù Hoạt đạt trên 75.000 ha, bao gồm hơn 30.700 ha rừng đặc dùng và 44.340 ha rừng phòng hộ. Rừng nằm trong các lưu vực thuỷ điện là 67.152. Từ diện tích trên, hàng năm đơn vị sẽ được nhà nước phân bổ hàng chục tỷ đồng để thực hiện giao khoán bảo vệ cho cộng đồng dân cư, cũng như hỗ trợ người dân phát triển rừng và xây dựng các công trình cộng đồng.
Mặt khác, cơ quan chủ rừng được trích 7% quản lý phí để duy trì hoạt động, sống nhờ vào “bầu sữa” ngân sách nhà nước, bởi thế khi bị ngắt quãng giữa chừng tất sẽ kéo theo tâm lý âu lo cùng cực. Ông Nguyễn Văn Sinh, Giám đốc Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt xác nhận:

Tới đây đường đi sẽ rất ghập ghềnh. Ảnh: KA.
“Năm 2026 Chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững đã kết thúc, các chương trình khác đến nay chưa có thông báo giao vốn. Như vậy nguồn kinh phí để thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho các cộng đồng dân cư rất khó khăn. Nguồn thu của đơn vị rất đơn điệu, thiếu ổn đinh, trong khi các khoản chi về lương, các đóng góp theo lương và các chi phí khác thường xuyên biến động, điều này kéo theo nhiều khó khăn, áp lực. Nhìn chung sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý bảo vệ rừng trong giai đoạn 2026 -2030”.
Áp lực bộn bề
Mốc thời gian ông Nguyễn Văn Sinh đề cập đến cũng trùng với thời điểm đơn vị này thực hiện phương án tự chủ. Với tình thế lúc này, rõ ràng chặng đường phía trước của Khu BTTN Pù Hoạt và tổng thể các đơn vị chủ rừng tại Nghệ An sẽ đầy rẫy chông gai, thách thức.
Được biết, thực hiện kế hoạch tự chủ, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt sẽ chuyển sang mô hình đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên (Nhóm 2) trong giai đoạn 2026 – 2030. Dù từng bước chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi nhưng đơn vị này xác định giai đoạn đầu sẽ vô cùng khó nhọc. Áp lực và thách thức dễ nhận thấy nhất là đảm bảo nguồn thu ổn định lâu dài, bền vững hòng duy trì các hoạt động, đặc biệt trong điều kiện chi phí sản xuất biến động khó lường.

Khu BTTN Pù Hoạt thuộc đơn vị chủ rừng "vip" bậc nhất Nghệ An vẫn chưa sẵn sàng với bài toán tự chủ. Ảnh: KA.
Khó khăn chất chồng khó khăn khi đơn giá dịch vụ trong lĩnh vực lâm nghiệp chưa được xây dựng, đồng nghĩa chưa có cơ sở để Nhà nước tiến hành đặt hàng. Trong khi yêu cầu về nguồn thu để chi trả lương, các hoạt động liên quan luôn hiện hữu.
Từ thực tế trên, ông Nguyễn Văn Sinh chốt lại: “Hiện tại đơn vị nhìn vào nguồn bảo vệ rừng trên diên tích chi trả dịch vụ môi trường rừng. Lúc này đội ngũ công chức, viên chức và người lao động vẫn chưa sẵn sàng cho cơ chế tự chủ, tâm lý vẫn dựa vào “bình sữa mẹ” là ngân sách Nhà nước”.
Tâm trạng âu lo cũng “lan” đến Ban quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn, là đơn vị được giao quản lý diện tích rừng trải rộng nhưng nguồn thu chính chỉ xoay quanh dịch vụ môi trường rừng, nhiệm vụ được giao đặt hàng và các chương trình, chính sách phát triển lâm nghiệp. Ngặt nỗi, các nguồn kinh phí nêu trên đều có mục tiêu, đối tượng, nội dung chi và cơ chế quản lý riêng, tuyệt đối không thể sử dụng linh hoạt để cân đối toàn bộ nhiệm vụ chi thường xuyên.
Bám theo chỉ đạo, những năm qua đơn vị đã làm thủ tục trả về cho địa phương quản lý hơn 70.000 ha, lúc này đang giữ khoảng 106.000 ha, để duy trì tốt cần tiếp tục điều chỉnh, giữ ổn định trong khoảng 70.000 ha - 80.000 ha, vốn là diện tích đủ điều kiện thụ hưởng các chính sách lâm nghiệp. Theo lộ trình, Ban sẽ xây dựng phương án ký kết, giao khoảng 50.000 ha cho dân bản nhận khoán bảo vệ, số còn lại sẽ do người lao động tại chính đơn vị đứng ra gánh vác. Đồng thời kỳ vọng biến khoảng 5.000 ha đất trống sẽ thành rừng trong tương lai, qua đó tăng thêm nguồn thu cho anh em. Ngoài ra, cùng đặt nhiều kỳ vọng vào thị trường mua bán tín chỉ carbon sau nhiều năm triển khai thí điểm.

BQLRPH Kỳ Sơn còn rất nhiều việc phải làm để không bị tụt lại phía sau. Ảnh: Việt Khánh.
Về mặt lý thuyết, tính toán của BQLRPH Kỳ Sơn có cơ sở, tuy nhiên xét nhiều yếu tố cũng để lại những mối nghi ngại. Nhất là khi thói quen đốt nương làm rẫy, du canh du cư trên đất này của đồng bào Mông vẫn là mối lo thường trực, đặt trong bối cảnh đó lấy gì đảm bảo rừng không biến động theo hướng tụt giảm quy mô, diện tích.
Chưa kể, địa hình Kỳ Sơn chủ yếu đồi cao, núi dốc, đất đai vốn dĩ khô cằn, sỏi đá, để nhân rộng những cánh rừng thưa, còi cọc thành “rừng giàu”, qua đó đủ tiêu chí thụ hưởng dịch vụ chi trả là cả câu chuyện dài kỳ.
Ông Lê Hoàng, Giám đốc BQLRPH Kỳ Sơn tiết lộ, hiện mức thu nhập bình quân tại đơn vị là 10 triệu đồng/người/tháng, muốn phát triển theo hướng tịnh tiến, đồng thời đảm bảo nhiệm vụ chi thường xuyên khi tự chủ đòi hỏi đơn vị phải năng động hơn, cùng lúc đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác nhau, như tư vấn, thiết kế đối với các công trình lâm sinh, mở rộng dịch vụ ươm giống...
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/khi-lam-nghiep-la-nhuoc-diem-cua-nghe-an-bai-3-chu-rung-au-lo-truoc-bai-toan-tu-chu-tai-chinh-d813906.html