Nghị quyết 05-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh: Bước chuyển mạnh mẽ để Lâm nghiệp phát triển bền vững

PHO
Ngày 23/12/2025, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo. Để rõ hơn bối cảnh ra đời Nghị quyết, những định hướng phát triển lâm nghiệp của tỉnh, Báo và phát thanh truyền hình Nghệ An đã có buổi trao đổi cùng ông Nguyễn Danh Hùng - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.

P.V: Xin ông cho biết bối cảnh lịch sử và sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026 – 2030 và những năm tiếp theo?

Ông Nguyễn Danh Hùng: Nghị quyết số 05-NQ/TU được ban hành trong bối cảnh lâm nghiệp Nghệ An đứng trước những yêu cầu mới rất cao, vừa phải giữ vững tài nguyên rừng, vừa phải phát huy rừng như một nguồn lực quan trọng của phát triển kinh tế xanh, kinh tế sinh thái và sinh kế người dân.

Nghệ An có hơn 1,179 triệu ha đất lâm nghiệp, chiếm 71,5% tổng diện tích tự nhiên, là địa phương có diện tích đất lâm nghiệp lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ. Tỷ lệ che phủ rừng trong nhiều năm duy trì ổn định trên 58%. Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng bình quân 7,66%/năm giai đoạn 2021 - 2025, kim ngạch xuất khẩu gỗ và lâm sản ngoài gỗ đạt khoảng 227,47 triệu USD/năm, mỗi năm trồng mới từ 18.000-22.000 ha rừng tập trung và trên 8 triệu cây phân tán, đưa tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 57,02% năm 2015 lên 59,01% năm 2024. Đây là lợi thế rất lớn, đồng thời cũng đặt ra yêu cầu quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hết sức chặt chẽ, khoa học và bền vững.

Một vùng rừng sa mu quý hiếm trong Vườn Quốc gia Pù Mát. Ảnh: Thành Cường

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy lĩnh vực lâm nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế: Rừng trồng chủ yếu là gỗ nhỏ, giá trị kinh tế thấp; diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững chỉ chiếm 16,6% diện tích rừng trồng; rừng tự nhiên nghèo và nghèo kiệt chiếm tới 43,05% diện tích rừng tự nhiên. Hạ tầng lâm nghiệp, nhất là đường lâm nghiệp, cơ sở phòng cháy, chữa cháy rừng còn thiếu và yếu; tiến độ triển khai Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ còn chậm. Các giá trị đa dụng của rừng như kinh tế dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ môi trường rừng, carbon rừng chưa được khai thác tương xứng; đời sống người dân làm lâm nghiệp, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn.

Trong khi đó, yêu cầu đặt ra từ Luật Lâm nghiệp, chiến lược tăng trưởng xanh, cam kết giảm phát thải, cùng với nhiệm vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị, phát triển bền vững, đòi hỏi phải có một nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy với tầm nhìn dài hạn, giải pháp đồng bộ.

Một vùng rừng biên giới Thông Thụ. Ảnh: Thành Cường

Chính vì vậy, việc Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU về phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo là rất cần thiết, kịp thời, khẳng định rõ lâm nghiệp giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, qua đó, tạo cơ sở chính trị để huy động nguồn lực, tổ chức triển khai các giải pháp phát triển lâm nghiệp một cách căn cơ, bền vững.

P.V: Từ nhiều năm qua, tỉnh Nghệ An luôn xem trọng và có nhiều chính sách lớn đối với công tác bảo vệ, phát triển rừng gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp, nâng cao đời sống người dân, đặc biệt là đời sống đồng bào các dân tộc vùng núi cao. Vậy ở Nghị quyết số 05-NQ/TU có những điểm mới tích cực khác biệt gì?

Ông Nguyễn Danh Hùng: Điểm mới và khác biệt rất rõ của Nghị quyết số 05-NQ/TU là cách tiếp cận phát triển lâm nghiệp một cách toàn diện, coi quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Không chỉ nhằm giữ vững diện tích, độ che phủ rừng, bảo vệ môi trường, mà còn phát huy tiềm năng, giá trị đa dụng của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên, để phục vụ phát triển kinh tế, bảo đảm sinh kế người dân, gắn với quốc phòng, an ninh và ứng phó biến đổi khí hậu.

Người dân xã biên giới Hạnh Dịch cùng Khu BTTN Pù Hoạt tuần tra bảo vệ rừng. Ảnh: Thành Cường

Thứ nhất, Nghị quyết đặt người dân và chủ rừng vào vị trí trung tâm, chuyển từ tư duy “giữ rừng là trách nhiệm” sang “giữ rừng để phát triển bền vững”, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, nhất là hộ trồng rừng quy mô nhỏ, đồng bào dân tộc thiểu số; thông qua phát triển kinh tế rừng, lâm sản ngoài gỗ, dược liệu, nông lâm kết hợp và các mô hình sinh kế gắn với rừng.

Thứ hai, Nghị quyết xác định phát triển lâm nghiệp phải gắn chặt với chủ trương, đường lối của Đảng, quy hoạch lâm nghiệp quốc gia và quy hoạch tỉnh, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hoạch định chính sách, đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, trồng rừng gỗ lớn, nâng cao giá trị rừng trồng, gắn trồng rừng với chế biến - thị trường bằng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra trồng rừng nguyên liệu tại xã Con Cuông. Ảnh: Mai Hoa

Thứ ba, Nghị quyết định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng của ngành lâm nghiệp, chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, phát triển công nghiệp chế biến sâu; đồng thời đẩy nhanh xây dựng và đưa Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ vào vận hành hiệu quả, coi đây là hạt nhân để hiện đại hóa ngành lâm nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của lâm sản Nghệ An.

Thứ tư, Nghị quyết mở rộng không gian phát triển lâm nghiệp theo hướng đa giá trị, không chỉ đối với rừng trồng mà phát huy đầy đủ các giá trị sinh thái, môi trường, dịch vụ và kinh tế của rừng tự nhiên, gắn với kinh tế dưới tán rừng, lâm sản ngoài gỗ, cây dược liệu, dịch vụ môi trường rừng và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ các-bon.

Núi rừng sông Giăng. Ảnh: Hồ Mậu Thanh

Thứ năm, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về lâm nghiệp, kiện toàn tổ chức bộ máy, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng Kiểm lâm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và điều hành ngành.

Có thể nói, Nghị quyết số 05-NQ/TU không chỉ kế thừa các chủ trương trước đây, mà tạo bước chuyển rất rõ về tư duy và cách làm, mở ra định hướng phát triển lâm nghiệp Nghệ An theo hướng hiện đại, đa giá trị và bền vững hơn.

Bộ đội Biên phòng cùng người dân xã biên giới Hạnh Dịch và Khu BTTN Pù Hoạt tuần tra bảo vệ rừng. Ảnh: Thành Cường

P.V: Nghị quyết 05 của BCH Đảng bộ tỉnh là hết sức quan trọng, tuy nhiên, để các nội dung của Nghị quyết được hiện thực hóa, đi vào đời sống xã hội, các cơ quan của tỉnh mà cụ thể là Sở Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng lộ trình thực hiện như thế nào?

Ông Nguyễn Danh Hùng: Ngay sau khi Nghị quyết số 05-NQ/TU được ban hành, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động tham mưu UBND tỉnh xây dựng và phê duyệt Đề án phát triển lâm nghiệp bền vững tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026–2030 và những năm tiếp theo, coi đây là công cụ quan trọng để cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết vào thực tiễn. Lộ trình triển khai Nghị quyết được xác định theo các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của công tác tổ chức thực hiện.

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện, trong đó trọng tâm là tham mưu Đảng ủy UBND tỉnh lãnh đạo UBND tỉnh xây dựng, ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 05, coi đây là căn cứ chỉ đạo, điều hành xuyên suốt trong toàn tỉnh.

Cán bộ báo vệ rừng Vườn Quốc gia Pù Mát bên một cây samu có tuổi đời hàng trăm năm. Ảnh: Thành Cường

Trên cơ sở đó, các sở, ngành cấp tỉnh, đặc biệt là Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Tài chính, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương… theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động rà soát, tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách; tổ chức triển khai các nhiệm vụ về quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng lâm nghiệp, phát triển rừng gỗ lớn, giống cây lâm nghiệp chất lượng cao, kinh tế dưới tán rừng, chế biến và phát triển thị trường lâm sản.

Thứ hai, tổ chức triển khai các nhiệm vụ chuyên môn cốt lõi, tập trung bảo vệ vững chắc diện tích rừng hiện có, hạn chế thấp nhất các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp; nâng cao chất lượng rừng, cải thiện năng suất và giá trị rừng trồng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý, giám sát tài nguyên rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; đồng thời tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hạ tầng và đưa Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ vào hoạt động ổn định, hiệu quả.

Phối cảnh không gian phân khu trung tâm sản xuất giống cây lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thuộc Quy hoạch chung xây dựng Khu lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao vùng Bắc Trung Bộ. Ảnh: CSCC

Thứ ba, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp, bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước, chú trọng huy động các nguồn lực xã hội hóa, nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, nguồn từ thị trường các-bon và các chương trình, dự án hợp tác trong và ngoài nước; bảo đảm đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, gắn với hiệu quả thực chất và bền vững.

Thứ tư, đối với cấp ủy, chính quyền cơ sở các xã, phường có rừng, trọng tâm là khẩn trương xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện từng địa bàn; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình và trách nhiệm cụ thể. Tập trung quản lý chặt chẽ diện tích rừng và đất lâm nghiệp; làm tốt công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng ngay từ cơ sở; phối hợp đẩy nhanh tiến độ giao đất gắn với giao rừng; tổ chức phát triển rừng trồng gỗ lớn, kinh tế dưới tán rừng, từng bước nâng cao sinh kế, thu nhập cho người dân sống dựa vào rừng.

Cùng với đó, công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết được xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, với sự tham gia của Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.

Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định rõ vai trò là cơ quan đầu mối tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc; phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và địa phương để tổ chức thực hiện Nghị quyết đồng bộ, quyết liệt và thực chất, bảo đảm Nghị quyết số 05-NQ/TU không chỉ dừng lại ở chủ trương, mà thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

P.V: Xin cảm ơn ông!

Núi rừng vùng biên giới Thông Thụ. Ảnh: Thành Cường

Nguồn: https://baonghean.vn/nghi-quyet-05-nq-tu-cua-ban-chap-hanh-dang-bo-tinh-buoc-chuyen-manh-me-de-lam-nghiep-phat-trien-ben-vung-10322338.html?gidzl=9TwANTUdLZSWnenIqR1MCIJEZbBCi0DXFPlG1fdiNcHja8S4cxbVDsINXL33lbPcFCcE0cR6J-jIqQ1IDm

lên đầu trang