Trong thời gian qua, BQL Khu BTTN Pù Hoạt đã có nhiều nỗ lực phối hợp với các tổ chức nghiên cứu trong nước và quốc tế để thực hiện các hoạt động điều tra, nghiên cứu và đánh giá lại các giá trị dạng sinh học của Khu bảo tồn, đặc biệt là ứng dụng các công nghệ tiên tiến, hiện đại để giám sát đa dạng sinh học nói riêng và tài nguyên rừng nói chung. Từ kết quả điều tra, nghiên cứu bằng công nghệ bẩy ảnh, lần đầu tiên đã ghi nhận được hình ảnh loài Sói Lửa (Cuon alpinus Pallas, 1811) trong rừng của Khu BTTN Pù Hoạt. Hình ảnh ban đầu về cá thể Sói Lửa (Cuon alpinus Pallas, 181) ghi nhận được tại Khu BTTN Pù Hoạt đã được Trung tâm nghiên cứu IZW của Cộng hoà Liên bang Đức giám định. Kết quả nghiên cứu và ghi nhận loài này trong khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã được đăng tải lên Tạp chí của Trường đại học Cambridge (Published online by Cambridge University Press: 26 February 2026).

Sói Lửa quý hiếm ghi nhận tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt
Theo Sách Đỏ của Việt Nam, loài Sói Lửa (Cuon alpinus Pallas, 181) được xếp vào nhóm CR (Critically Endangered) – nhóm cực kỳ nguy cấp. Nhóm này gồm những loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cực cao trong tự nhiên và cần các biện pháp bảo tồn khẩn cấp để tránh bị biến mất vĩnh viễn. Theo các tài liệu khoa học, Sói Lửa (Cuon alpinus Pallas, 181) là loài có phân bố rất hẹp, ở những sinh cảnh rừng già ít bị tác động. Các dữ liệu khoa học cho thấy, ở Miền Bắc chỉ mới ghi nhận một số địa phương có phân bố của loài Sói Lửa (Cuon alpinus Pallas, 181). Cụ thể: Tỉnh Điện Biên (cũ) ghi nhận phân bố ở Mường Nhé; tỉnh Thanh Hoá ghi nhận phân bố ở Pù Luông, Xuân Liên, Bến En và Pù Hu; tỉnh Nghệ An ghi nhận phân bố ở Pù Hoạt; tỉnh Quảng Trị ghi nhận phân bố ở Phong Nha - Kẻ Bàng và Bắc Hương Hoá.
Sói Lửa (Cuon alpinus Pallas, 181) có hình dáng giống chó nhà, nặng 8-20 kg. Tai cao vểnh, đỉnh tai tương đối tròn, lông phía trong vành tai trắng. Chân cao khoẻ, vuốt và giữa các ngón có lông dày. Bộ lông màu đỏ da bò, phần mõm và đuôi nâu đen, phần họng và bụng hơi sáng màu (Đặng Huy Huỳnh và cs. 2008). Theo đánh giá của các nhà khoa học, do sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản. Loài này trước đây đã bị săn bắt quá mức làm thực phẩm; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80 % trong vòng 30 năm qua. Vì vậy, loài này hiện nay nguy cơ bị đẹ doạ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao.

Phát hiện chó Sói Lửa tại Khu BTTN Pù Hoạt có ý nghĩa đặc biệt đối với công tác bảo tồn động vật hoang dã
Các dữ liệu khoa học trước đây vẫn ghi nhận loài Sói lửa có phân bố tại Khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An), tuy nhiên đây là lần đầu tiên các nhà khoa học ghi nhận hình ảnh ngoài thực địa để chứng minh sự tồn tại của loài này trong tự nhiên ở khu vực Pù Hoạt. Đồng thời chứng minh tính đa dạng sinh học của khu bảo tồn.
Với việc liên tục ghi nhận được các loài động vật quý hiếm trong Khu BTTN Pù Hoạt thời gian gần đây như: Beo lửa (Catopuma temminckii, Vigors & Horsfield, 1827), Mèo gấm (Pardofelis marmorata, Martin, 1837), Mèo rừng (Prionailurus bengalensis, Kerr, 1792) là dấu hiệu tích cực, phản ánh giá trị đa dạng sinh học của Khu BTTN Pù Hoạt và những nỗ lực của đơn vị và chính quyền địa phương để bảo tồn các giá trị này.
Nguyễn Văn Sinh